Home / Văn mẫu THPT / Văn mẫu lớp 11 / Bình Giảng Khổ 1 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

Bình Giảng Khổ 1 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

Đề bài: Bình Giảng Khổ 1 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử

Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc Che ngang mặt chữ điền.

Bài Làm

Hàn Mặc Tử (1912-1940) là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1941). Ông là nhà thơ đa phong cách. Bên cạnh những kịch thơ huyền ảo thơ mộng là những bài thơ thuận nghịch độc cực kì điêu luyện, bên cạnh những vần thơ điên loạn, thi sĩ nhiều khi lại sáng tạo nên những hình ảnh tuyệt mĩ và hồn nhiên, trong trẻo lạ thường. Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ… là những bài thơ tuyệt bút đầy hương sắc trong vườn thơ Việt Nam hiện đại.

Đây thôn Vĩ Dạ viết về cảnh sắc thiên nhiên và con người xứ Huế đáng yêu, nói lên nỗi niềm khát khao được hòa hợp, gắn bó với người, với cảnh của nhà thơ đối với một miền quê thơ mộng. Đây là khổ thơ đầu của áng thơ trữ tinh này: ” Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nấng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc  Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Vĩ Dạ, một làng cổ nổi tiếng, nơi cố đô Huế, nằm bên bờ Hương Giang. Cảnh vườn tược xanh tươi, cây trái bốn mùa, với sông nước con đò và những nếp nhà duyên dáng, êm đềm, thơ mộng.;. Vĩ Dạ từng gắn liền với những câu hò Mái nhì, Mái đẩy, hò Giã gạo… từng làm say đắm lòng người đã mấy trăm năm qua:

Núi Truồi ai đắp mà cao,

Loading...

Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?

Nong tằm ao cá nương dâu 

Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò.

Những tiếng ai thân thương trong câu hò xứ Huế ấy đã vọng vào thơ Hàn Mặc Tử, gợi nên bao ám ảnh thương nhớ bồi hồi. Câu thơ đầu mang tính lưỡng ngôn vừa như một lời chào mời thân mật, vừa như một lời trách nhẹ nhàng sơ sơ mà nghe rất đáng yêu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Câu hỏi tu từ chứa đựng bao hoài niệm bâng khuâng. Sáu thanh bằng liên tiếp, rồi đọng lại một thanh trắc Vĩ, âm điệu vần thơ lâng lâng, tình tứ: đã lâu anh không về thăm thôn Vĩ, và thăm.. em. Vĩ Dạ phải là nơi đã để lại trong lòng Hàn Mặc Tử nhiều kỉ niệm đẹp mới thoáng hiện chút tâm tình ấy.

Câu thứ hai, thứ ba tả cảnh sắc Vĩ Dạ:

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên 

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc.

Nắng mới lên là nắng sớm bình minh.Cảnh được nhìn từ xa với bao trìu mến, vẫy gọi. Điệp từ nắng trong hai tiểu đôi nắng hàng cau / / nắng mới lên như một tiếng ngâm dội lên trong lòng với bao xúc động. Hàng cau cao vút, thẳng tắp là hình ảnh thân thuộc của Vĩ Dạ. Ở đây, hầu như vườn nhà nào cũng có một, hai hàng cau thẳng tắp, vút cao lên như đón chào du khách từ xa, bóng cau như trầm mặc trong sương sớm, lắng nghe chuông chùa Diệu Đế, Thiên Mụ, và tắm ánh bình minh rạng ngời tàu cau. Nhịp thơ 1-3-3: Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên như nhịp bước khoan thai của khách phương xa, rồi đứng dừng lại, trầm ngâm ngắm nhìn nắng mới lên trên những tàu cau xanh biếc rạng ngời.

binh giang kho 1 bai tho day thon vi da

Khổ thơ như sự mời chào, hay lời nhẹ trách mà còn hàm chứa cả niềm tiếc nuối, bâng khuâng trước cảnh đẹp thôn Vĩ của thi sĩ.

Câu thơ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc như một lời trầm trồ ngạc nhiên thốt lên trước vẻ đẹp lộng lẫy của cỏ cây hoa trái. Vườn ai không xác định, một chút ngỡ ngàng bâng khuâng. Đích thị là vườn xuân của thiếu nữ, của nhà em, của lòng em. Vẫn là cảnh cũ người xưa, nhưng đã lâu chưa về thăm lại nên ngỡ ngàng mới thốt lên như vậy.

Vườn tược Vĩ Dạ xanh tươi và sum suê bốn mùa. Lá xanh mơ màng ướt đẫm sương đêm, láng mướt lên, ánh ngời lên dưới nắng hồng bình minh một màu xanh ngọc bích. Hai tiếng mướt quá và hình ảnh so sánh xanh như ngọc là những nét vẽ thần tình đã tô đậm cái hồn của cây lá trong vườn ai. Tưởng như nghe thấy tiếng nhự đang chuyển lên cành lá xôn xao. Tất cả đều tưng bừng, rạo rực, đầy sức sống. Chỉ có vườn xuân mới có màu xanh mướt mờ màng như ngọc vậy. Chỉ có vườn em mới đáng yêu và hữu tình như thế. Sau cảnh đẹp là bóng hình thôn nữ: Lá trúc che ngang mặt chữ điền. Gương mặt cô gái Huế thường gắn liền với chiếc nón bài thơ. Lá trúc che ngang là một nét vẽ tài hoa, gợi lên thấp thoáng gương mặt thiếu nữ. Một nét vẽ rất đẹp miêu tả vẻ dịu dàng, duyên dáng và tình tứ của thiếu nữ sông Hương. Lá trúc thanh mảnh biếc xanh đã làm tôn thêm vẻ đẹp phúc hậu của thiếu nữ gương mặt chữ điền.

Đã có giai nhân vin cành mầu đơn; đã có mĩ nhân ngắm hoa tử kim nở, bức thêu dở dang trên đôi tay thon nhỏ, nõn nà. Và ở đây trong thơ Hàn Mặc Tử lại có gương mặt chữ điền ẩn hiện thấp thoáng sau cành trúc, lá trúc. Cây đẹp, cảnh đẹp và người đẹp là thế! Hàn Mặc Tử cũng tả ít mà gợi nhiều như các tao nhân nghìn xưa. Có màu phơn phớt hồng bình minh. Có màu ngọc xanh mướt của cây lá. Có đường nét thanh mảnh xinh xắn của lá trúc. Và còn có gương mặt dịu dàng, e ấp, phúc hậu của thiếu nữ. Nếu tách riêng khổ thơ này ra khỏi bài thơ, nó là một bài tứ tuyệt đặc sắc.

Cảnh và người đều thấm tình thương mến, bâng khuâng. Bức tranh quê hương xinh đẹp, tươi tắn, tràn đầy sức sống mơn mởn và có sức quyến rũ lạ lùng. Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Cảnh đẹp thế, người đáng yêu thế sao đã lâu anh không về chơi? Đâu chỉ là sự mời chào, hay lời nhẹ trách mà còn hàm chứa cả niềm tiếc nuối, bâng khuâng của thi sĩ. Trên cái nền phong cảnh đầy hương sắc ấy, vương vấn một hoài niệm, một tiếng thầm thì của tình yêu. Người đọc tưởng như nhà thơ đang đi tìm bóng hình giai nhân, bóng hình cô gái Huế sau lá trúc của vườn ai mờ sương khói nơi Vĩ Dạ.

Thu Huyền
Bình Giảng Khổ 1 Bài Thơ Đây Thôn Vĩ Dạ Của Hàn Mặc Tử
Rate this post
Please follow and like us:

Comments

comments

Loading...
Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial