Home / Tác phẩm văn học / Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng

Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng

Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng

“Cuối thu rồi nghe hương cốm thoảng bay

Vương trong nắng chiều heo may trở gió

Cho tôi quay về ngày xưa thơ mộng đó

Loading...

Nơi đồng làng tôi cắt cỏ chăn trâu”

(Hương cốm mùa thu – Nguyễn Đình Huân)

Không chỉ riêng Nguyễn Đình Huân trăn trở đi tìm cho mình một vé đi về tuổi thơ mà ngay cả nhà văn Vũ Bằng cũng mong chờ cơ hội được hít trọn hương cốm thoang thoảng trong gió dưới những áng mây trời lãng đãng ngày mới vào thu. Bằng ngòi bút tinh tế, mềm mại và cả tấm lòng nâng niu, trân trọng Vũ Bằng đã tái hiện hoàn hảo hương vị sản vật giản vị mà đặc sắc ấy trong Cốm Vòng (Miếng ngon Hà Nội).

Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội
Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội

Cốm Vòng là trích đoạn đặc sắc trong tập hồi ký Miếng ngon Hà Nội của Vũ Bằng. Đây được xem là tuyển tập những câu chuyện của chàng trai sành ăn xứ Bắc về ẩm thực Hà Thành, là nỗi nhớ của người xa xứ mơ về ngày xưa đã xa. Hơn 20 năm cuộc đời sống và viết sách ở Sài Gòn nhưng hầu hết các tác phẩm của ông đều gắn liền với hình ảnh và câu chuyện trênđất thủ đô. Và Miếng ngon Hà Nội làmột trong số đó. Có thể nói, hình ảnh cốm làng Vòng đã được đưa vào trong nhiều tác phẩm văn học thế nhưng không phải ai cũng thành công như nhà văn Vũ Bằng. Từ vị trí đặc biệt của cốm trong cuộc sống người Việt xưa, ông đi đến khắc họa “công trình” chế biến cốm, cách thưởng thức cốm đúng kiểu trân trọng thứ quà trời ban.

Với Vũ Bằng, cốm là một mảng trời ký ức không gì có thể thay thế được, là cả nếp sống của người Việt xưa. Có mấy ai như ông: “Tôi nhớ rằng tôi không nhớ Tết, không nhớ những ngày vui và những tình ái đã qua bằng nhớ một ngày nào đã mờ rồi, tôi hãy còn nhỏ, sáng nào về mùa thu cũng được mẹ mua sẵn một mẻ cốm Vòng, để ăn lót dạ trước khi đi học”. Nỗi nhớ ấy khiến tác giả muốn bật khóc như một đứa trẻ. Phải chăng, cốm gắn liền với những câu chuyện giản đơn thuở bé rồi nhẹ nhàng hằn in trong tư tưởng người Việt trở thành tiềm thức không thể nào quên? Để rồi, cốm hóa thành niềm đau da diết trong lòng những người xa quê, đến mỗi độ tiết trời se lạnh “người ta cũng đã thấy ngát lên mùi thơm dịu hiền của lúa non màu xanh lưu ly đặt trong những tàu lá sen tròn cũng xanh muôn muốt màu ngọc bích.”  

Ngày trước, cốm Vòng còn được “thần thánh hóa” bởi lẽ mỗi khi có cốm mới, những nhà lễ giáo đều không dám ăn ngay. Họ phải mua cốm để cúng thần thánh và gia tiên trước. Vì thế, với người Hà Thành, cốm còn được xem là thức quà đầy trang trọng được dùng những ngày vui trong năm như biếu xén, lễ lạt hay sêu tết. Mượn ca dao của ông bà, Vũ Bằng miêu tả: “Để anh mua cốm, mua hồng sang sêu”. Hay: “Cốm và hồng đưa sang nhà gái như thế báo trước những cuộc tình duyên tươi đẹp, những đôi lứa tốt đôi cũng như hồng cốm tốt đôi”.Cách so sánh của tác giả không chỉ đầy sắc sảo, tài hoa mà còn thể hiện rõ một phong cách ẩm thực rất tinh xảo.Sự hòa quyện giữa hồng và cốm về hương vị lẫn màu sắc là sự kết hợp tuyệt vời. Trong tác phẩm khác, Thạch Lam cũng từng viết: “Màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng ngọc như lựu già. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được bền lâu”.

Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội
Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội

Chế biến hạt lúa ngoài ruộng thành mẻ cốm xanh, thơm gói gọn trong lá sen được Vũ Bằng ví như một “công trình” kì công mà kể về nó là chuyện của “các nhà khảo cổ”. Không ai biết được vị ngon của cốm Vòng đến từ đâu? Từ cách tươi bón đất ruộng hay từ nghệ thuật truyền thống tinh vi của người làng Vòng? Chỉ biết rằng, “người làng Vòng có những phương pháp bí truyền giữ kín, chỉ được truyền cho con trai, nhất thiết không truyền cho con gái, vì sợ con gái đi lấy chồng phương xa”. Cốm ngon nguyên là hạt non của “thóc nếp hoa vàng”có vị ngọt thơm như sữa người. Đây cũng chính là thời điểm “người làng Vòng đi ngắt lúa về và nội trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ phải bắt tay vào việc chế hóa hạt thóc ra thành cốm” chứ không phải như làng Lủ, Mễ Trì đợi đến lúa chín.

Thế nhưng, ai cũng cho rằng tuyệt chiêu làm cốm làng Vòng “là ở lúc đem đảo ở trong những nồi rang. Vừa dẻo, lửa lúc nào cũng phải đều, nhất là củi đun nhất thiết phải là thứ củi gỗ cháy âm”. Tác giả không chỉ kể tỉ mỉ công đoạn làm cốm mà còn dùng những thuật ngữ của người địa phương gọi tên chi tiết. Đến công đoạn xay, giã cũng phải gượng nhẹ, chu đáo mới tạo nên thứ cốm dót. Còn khi sàng xong gọi là cốm đầu nia. Công đoạn hồ tạo cho cốm có màu xanh ngọc bích từ lá mạ non. Nhà văn Nguyễn Tuân từng viết về màu xanh ấy: “Cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả màu xanh của ngọc thạch. Cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen phấn làm đĩa đựng càng thấy mình cùng tạo vật sao mà nó chan hòa cảm thông đến được như thế. Cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mà trên đó lại chằng lên một múi lạt chữ thập vuông nhuộm đỏ cánh sen để gửi đến ngõ nhà người yêu, để đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi, thì quả cái màu xanh thật là màu của nguyện vọng hạnh phúc”.

Trình bày và thưởng thức cốm cũng là cả một nghệ thuật. Nếu có một ngày, người ta gói cốm bằng giấy bóng kính rồi buộc bằng dây lụa thì trông thiệt là “khó thương” biết nhường nào. Phải chăng, cốm là thứ quà dân dã, mộc mạc của Thần Nông ban tặng thì con người cũng nên trình bày một cách tinh tế, nhẹ nhàng?Cũng vì là hạt ngọc của trời, Vũ Bằng luôn tỏ ra “biết tiếc những hạt rơi, hạt vãi và nhất là phải ăn từng chút một, lấy ngón tay nhón lấy từng chút một, chứ không được phũ phàng. Ta vừa nhai nhỏ nhẹ, vừa ngẫm nghĩ đến tính chất thơm của cốm thoang thoảng mùi lúa đòng đòng”. Tác giả cũng kể những câu chuyện “hài” về người Âu Mỹ ăn cốm bằng “cùi dĩa”, có người ăn cốm với chả, giò hay thịt quay một cách tế nhị, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Thưởng thức cốm “có lẽ dùng thứ được nhất là cái thứ chuối tiêu “trứng muối” ăn thơm phưng phức, nhưng ăn như vậy chỉ có thể coi là ăn chơi bời. Muốn thưởng thức được hết hương vị của cốm, phải ăn cốm không, và chỉ ăn cốm không thôi”. Trải qua thời gian, cốm được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như cốm nén, chả lợn trong cốm, chè cốm. “Nhưng đó cũng chỉ là một chút hương thừa của cốm Vòng”. Hương cốm chỉ thơm và ngon khi thuần là cốm.

Qua hình thức kết hợp và kể những câu chuyện xoay quanh cốm, nhà văn Vũ Bằng đã vẽ nên một bức tranh đầy sống động về mùa cốm Hà Nội, mùa cốm trong nỗi nhớ của người xa quê. Hương vị cốm ấy, không mấy ai cũng được thưởng thức qua, không mấy ai tạo được và cũng không mấy ai giữ được cho đến hôm nay.

Bằng tất cả tâm huyết của tấm lòng người Việt muốn lưu giữ hương vị của cốm ngày xưa, các đầu bếp tại Bibiko Farm đã không ngừng sáng tạo đưa cốm vào trong chế biến nhiều món ăn. Từ đó, bước ra từ trang văn, hình ảnh cốm xanh không chỉ còn nằm trong trí nhớ của mọi người mà sẽ được lưu truyền trong cuộc sống đời thực.

Phân tích trích đoạn Cốm Vòng trong hồi ký Miếng ngon Hà Nội của nhà văn Vũ Bằng
5 (100%) 3 votes
Please follow and like us:
Loading...

Comments

comments

Social media & sharing icons powered by UltimatelySocial